Công ty mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động có chịu thuế TNCN không?

I.     Cơ sở pháp lý

Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện thuế GTGT và thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; Hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế TNCN quy định tạo luật sửa đổi….

Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

II.     Công ty mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động có chịu thuế TNCN không?

1.     Trường hợp công ty mua bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm

Căn cứ tiết đ.2 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC), hướng dẫn về các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công như sau:

“đ.2) Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm; mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoặc đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện cho người lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm (kể cả trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam) thì khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động. Bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm gồm các sản phẩm bảo hiểm như: bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí), … mà người tham gia bảo hiểm không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả.”

Công ty mua cho người lao động sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ không bắt buộc và không tích lũy về phí bảo hiểm thì khoản tiền phí mua khoản bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động

Bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm gồm các sản phẩm bảo hiểm như: bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí), … mà người tham gia bảo hiểm không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả 

Ví dụ

  • Công ty XYZ mua bảo hiểm sức khỏe toàn diện cho nhân viên A.
  • Phí bảo hiểm: 6 triệu đồng/năm,không có tích lũy về phí bảo hiểm .
  • Hợp đồng bảo hiểm do công ty đứng tên, không chi tiền mặt cho nhân viên

      →   Không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

2.     Trường hợp công ty mua bảo hiểm có tích lũy về phí bảo hiểm

a)  Mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm thành lập hoạt động theo quy định của luật Việt Nam

Căn cứ tại khoản 2 điều 14 Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định:

“6. Căn cứ tính thuế đối với tiền tích lũy mua bảo hiểm không bắt buộc là khoản tiền phí tích lũy mua bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động và tỷ lệ khấu trừ 10%.

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, người lao động chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế khi người sử dụng lao động mua bảo hiểm. Đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Trường hợp khoản phí tích lũy được trả nhiều lần thì tiền thuế được khấu trừ theo tỷ lệ 10% tương ứng với từng lần trả tiền phí tích lũy.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm theo dõi riêng phần phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.”

Ví dụ:

Công ty ABC mua hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho anh Nguyễn Văn A từ năm 2014, với tổng mức phí tích lũy là 500 triệu đồng trong suốt thời gian hợp đồng. Đến năm 2025, hợp đồng đáo hạn, và anh A được nhận lại toàn bộ khoản tích lũy.

Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ:

Khấu trừ 10% trên phần 500 triệu đồng  khi thanh toán cho anh A 
Thuế TNCN phải khấu trừ = 500 triệu × 10% = 50 triệu đồng

b) Mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập hoạt động theo quy định của luật Việt Nam

Căn cứ tại khoản 2 điều 14 Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định:

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam thì người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp trước khi trả lương cho người lao động.

Ví dụ: 

Công ty XYZ tại TP.HCM ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có tích lũy cho nhân viên với một công ty bảo hiểm nước ngoài có giấy phép hoạt động tại Việt Nam.
Tổng số tiền phí bảo hiểm mà công ty đóng thay cho nhân viên  là 200 triệu đồng.

Trước khi chi trả lương, công ty XYZ phải  khấu trừ thuế ngay tại thời điểm đóng phí

Thuế TNCN = 200 triệu × 10% = 20 triệu đồng

III.     CÔNG VĂN TRẢ LỜI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ

 Công văn 7813/CCTKV.XVI-QLDN2 ngày 16 tháng 05 năm 2025 như sau:

IV.     KẾT LUẬN

 Như vậy khi công ty mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động thì thu nhập chịu thuế TNCN được tính như sau:

  • Trường hợp không có tích lũy về bảo hiểm: thì không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
  • Trường hợp có tích lũy về bảo hiểm: phải tính vào thu nhập chịu thuế phần gốc, không tính phần lãi nhận được khi bảo hiểm đáo hạn.
  • Trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm thành lập theo quy định của Luật Việt Nam: tính vào thu nhập chịu thuế khi bảo hiểm đáo hạn.
  • Trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập theo quy định của Luật Việt Nam: tính vào thu nhập chịu thuế ngay tại năm tham gia.

 

(Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo và theo ý hiểu của người viết, không phải ý kiến tư vấn cụ thể cho bất kỳ trường hợp nào)

Biên soạn:  Nguyễn Xuân Hồng Nhân – Công ty TNHH Kiểm toán APS – 0966.955.811

Mọi thông tin xin liên hệ:

Công ty TNHH Kiểm toán APS

Địa chỉ: Số 26 Biệt thự BT1 Bán đảo Linh Đàm, Phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Việt Nam

Email: auditing.aps@gmail.com

Website: https://aps-audit.vn/

Facebook: https://www.facebook.com/APS.Audit

Tiktok: https://www.tiktok.com/@kiemtoanaps

Hotline/Zalo: 0979.508.565

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *